may tro thinh viet nam hearing aids viet nam
Thời gian làm việc
Thứ 2 - Chủ Nhật : 8h - 17h30
HOTLINE
093 270 4649 - 093 1010 188

NGHE KÉM Ở TRẺ EM - TRẺ GIẢM THÍNH LỰC

Nguyên nhân giảm thính lực ở trẻ em

a. Giảm sức nghe bẩm sinh: xảy ra từ khi mới chào đời

○ Di truyền
○ Nhiễm độc trong quá trình mang thai
○ Nhiễm trùng bào thai do virus Rubella, Cytomegalo, Herpes Sunplex…
○ Biến chứng liên quan yếu tố Rh trong máu
○ Sinh non, nhẹ cân; chấn thương lúc sinh
○ Mẹ bị tiểu đường, bị nhiễm độc thai nghén khi mang thai
○ Thiếu khí lúc sinh hoặc vài giờ sau sinh
○ Vàng da sơ sinh đến mức phải truyền máu
○ Sử dụng các thuốc gây độc cho tai
○ Dị tật vành tai, ống tai

b. Giảm sức nghe mắc phải

○ Nhiễm trùng tai, thường gặp nhất là viêm tai giữa
○ Nhiễm virus: sỏi, thủy đậu, cúm, quai bị
○ Di chứng của viêm màng não, viêm não
○ Sử dụng thuốc gây độc cho tai
○ Chấn thương vùng đầu
○ Tiếp xúc tiếng ồn

Dấu hiệu phát hiện trẻ nghe kém

Trẻ em còn nhỏ, chưa đủ hiểu biết để nói ra tình trạng giảm sức nghe của mình. Do đó phụ huynh cần chú ý quan sát trẻ để phát hiện những biểu hiện nghe kém sau:

- Trẻ sơ sinh: Trẻ không giật mình với những tiếng động lớn,đột ngột
- Trẻ 3 tháng tuổi: Trẻ không nhận biết giọng nói của bố mẹ, không “hóng chuyện”
- Trẻ 6 tháng tuổi: Trẻ không quay đầu hoặc hướng mắt về phía có âm thanh phát ra
- Trẻ 12 tháng tuổi: Trẻ không biết nói bập bẹ, không biết gọi “ba”, “má”, “mẹ”,…

Các trẻ lớn hơn có thể có những biểu hiện như:

- Khó tập trung chú ý
- Không nghe rõ lời nói nhỏ và vừa
- Thường hay hỏi lại “cái gì”, “hả”, “hỉ” khi trò chuyện
- Khả năng học tập kém (thầy cô giáo thường than phiền trẻ không tập trung, không chú ý nghe)
- Khi trò chuyện, trẻ thường phải chăm chú nhìn vào mặt người đối diện để nghe hiểu
- Khó nghe hiểu lời nói ở môi trường có nhiều tạp âm
- Thường ngồi sát màn hình ti-vi để nghe rõ hoặc vặn rất lớn âm lượng của ti-vi và các thiết bị nghe khác
- Khó nghe điện thoại ( thường hay dùng tay ngoáy tai mỗi khi nghe điện thoại)

Tác hại của việc nghe kém, giảm thính lực ở trẻ

Nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời, giảm sức nghe sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ. Giảm sức nghe khiến trẻ:

- Chậm biết nói, chậm phát triển ngôn ngữ - Giảm sút khả năng học tập
- Nhút nhát, rụt rè hoặc dễ bị kích động, cáu gắt
- Sống khép kín, tách biệt với các bạn đồng trang lứa, gặp khó khăn trong việc tham gia các hoạt động cộng đồng

Khi phát hiện trẻ nghe kém cần làm gì?

Đối với những trẻ sơ sinh được sinh ra trong những tình huống đã được nêu trong phần nguyên nhân gây giảm sức nghe bẩm sinh nói trên, các bậc phụ huynh nên đưa trẻ đến các khoa tai mũi họng – thính học tại các bệnh viện phụ sản, bệnh viện nhi đồng,… hoặc các trung tâm thính học để tầm soát sức nghe cho trẻ càng sớm càng tốt (trước khi trẻ được 6 tháng tuổi)

Đối với trẻ lớn hơn, khi phát hiện trẻ có biểu hiện giảm sức nghe, phụ huynh nên đưa trẻ đến khám tại khoa tai mũi họng thính học của cơ sở y tế hoặc các trung tâm thính học để đánh giá sức nghe, tìm nguyên nhân gây giảm sức nghe để được trị liệu thích hợp.

Phương pháp đo thính lực ở trẻ em

a. Các phép đo thính giác hành vi

Trong các phép đo này, bác sĩ tai mũi họng hoặc chuyên viên thính lực sẽ quan sát sự thay đổi hành vi của trẻ khi trẻ phản ứng với âm thanh.

b. Các phép đo đánh giá chức năng hệ thống tai – thính giác

Trẻ sẽ được thực hiện những phương pháp khác nhau tùy thuộc vào lứa tuổi, tình trạng phát triển và sức khỏe của trẻ.

- Các trẻ nhỏ chưa biết hợp tác và những trẻ bị các bệnh lý nội khoa hay có các vấn đề về phát triển tâm thần khiến trẻ không biết hợp tác sẽ được thực hiện các phép đo sau:

○ Đo âm ốc tai (OAE): để đánh giá chức năng hoạt động của tai trong
○ Đo nhĩ lượng: để đánh giá chức năng hoạt động của tai giữa ○ Đo phản xạ xương bàn đạp (phản xạ âm): để đánh giá chức năng hoạt động của tai giữa. ○ Đo đáp ứng thính giác thân não (ABR) để đánh giá chức năng hoạt động của thần kinh thính giác và tìm ngưỡng nghe. ○ Đo đáp trạng thái ứng bền vững thính giác (ASSR)

- Các trẻ lớn hơn, có sự phát triển tốt về tâm thần và hợp tác tốt thì ngoài hai phép đo nhĩ lượng, phản xạ âm, trẻ sẽ được thực hiện phép đo thính lực đơn âm để đánh giá sức nghe.

Trẻ nghe âm thanh thế nào?

Trẻ nghe hiểu được nhờ hệ thống tai - thính giác

cấu tạo tai

1. Tai gồm có:
. Tai ngoài: bao gồm vành tai và ống tai ngoài
. Tai giữa: bao gồm màng nhĩ và chuỗi xương con
. Tai trong: bao gồm tiền đình và ốc tai, trong đó ốc tai là cơ quan phụ trách về nghe. Trong ốc tai có chứa chất dịch và các tế bào lông.
2. Hệ thống thích giác bao gồm dây thần kinh thính giác và não bộ.

Giảm thính lực, giảm sức nghe ở trẻ

a/ Định nghĩa giảm sức nghe: Giảm sức nghe là tình trạng giảm một phần hoặc toàn bộ khả năng nghe, xảy ra khi có tổn thương ở bất kỳ nơi nào trên đường đi của hệ thống tai thính giác.

- Có ba dạng giảm sức nghe:
1. Tổn thương ở tai ngoài hoặc tai giữa gây nên giảm sức nghe dẫn truyền.
2. Tổn thương ở tai trong hoặc hệ thống thính giác gây nên giảm sức nghe tiếp nhận.
3. Tổn thương cả tai ngoài, tai giữa và tai trong gây nên giảm sức nghe hỗn hợp.

b/ Mức độ giảm sức nghe ở trẻ: Giảm sức nghe có thể gặp ở mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh đến người già, có thể xảy ra ở một tai hoặc cả hai tai và được chia thành 5 mức độ như sau:

giảm thính lực hình chuối

1. Độ I (giảm sức nghe nhẹ) : ngưỡng nghe nằm trong khoảng 26 - 40 dB
2. Độ II (giảm sức nghe trung bình): ngưỡng nghe nằm trong khoảng 41 - 55 dB
3. Độ III (giảm sức nghe trung bình- nặng): ngưỡng nghe nằm trong khoảng 56 - 70 dB
4. Độ IV (giảm sức nghe nặng): ngưỡng nghe nằm trong khoảng 71 - 90 dB
5. Độ V ( giảm sức nghe sâu, còn gọi là điếc đặc): ngưỡng nghe lớn hơn 90 dB

Điều trị cho trẻ nghe kém, giảm thính lực, giảm sức nghe thế nào?

Tùy theo nguyên nhân gây nên giảm sức nghe, tình trạng giảm sức nghe cũng như tình trạng sức khỏe của trẻ, trẻ sẽ có thể được điều trị bằng một trong các phương pháp sau:

- Sử dụng thuốc, phẫu thuật điều trị các bệnh về tai
- Mang máy trợ thính
- Sử dụng hệ thống FM cá nhân
- Cấy ốc tai điện tử
- Điều trị phục hồi chức năng nghe (học cách đọc âm môi, học ngôn ngữ điệu bộ)